Tham khảo: Phân tích các chức năng của tiền tệ & ví dụ?

Theo Mác khi vàng đựơc sử dụng làm tiền tệ thì tiền tệ gồm có 5 c/năng:

thước đo giá trị, p.tiện lưu thông, p.tiện thanh toán, p.tiện cất trữ, p.tiện cất trữ và tiền tệ thế giới.

Các nhà kinh tế học cho rằng tiền tệ có 3 c/năng gồm: p.tiện trao đổi, đơn vị tính toán, dự trữ giá trị. 

A. 5 c/năng theo Mác

1.Thước đo giá trị

Giá trị của tiền được dùng làm p.tiện để so sánh với giá trị của h.hóa hoặc dịch vụ, thông qua quan hệ này tiền đã thực hiện c/năng thước đo giá trị.

– Khi thực hiện c/năng này thì:

+ Giá trị của tiền được coi là chuẩn mực (1 bên là tiền, 1 bên là hàng)

+ Tiền là thước đo hao phí lao động xã hội kết tinh trong một h.hóa nào đó

VD: 1 m vải gồm có đối tượng lao động (bỏ ra 1 giờ hay 2 hoặc người khác 3 giờ) và công cụ lao động (máy dệt, kim khâu, kéo..)

Các điều kiện để thực hiện các c/năng này:

+ Tiền phải có đầy đủ giá giá trị (giá trị danh nghĩa và giá trị nội tại mà NN thừa nhận nó là tiền)

+ Tiền có tiêu chuẩn giá cả (là một hàm lượng vàng được luật NN ấn định cho tiền đơn vị và tên gọi của nó.)

Khi đo giá trị của h.hóa thì người mua và người bán chỉ  cần liên tưởng để so sánh đến giá trị của h.hóa và giá trị của tiền mà không quan tâm đến số tiền (Số tiền đó sẽ mua được bao nhiêu h.hóa tức là sức mua của đồng tiền cao hay thấp).

Và bây giờ người ta đo giá trị của h.hóa bằng 1 thước đo giá trị do NN qui định.=> Vì vậy trên thế giới mỗi quốc gia có 1 thước đo giá trị riêng và nó dựa trên cơ sở:

+  Năng suất lao động

+ Trình độ phát triển của nền KT

2.p.tiện lưu thông

Tiền làm môi giới trung gian trong trao đổi h.hóa, DV với nhau, quá trình này

diễn ra như sau: Hàng – Tiền – Hàng (H – T – H) trong đó:

Tiền là p.tiện quan trọng trong việc trao đổi h.hóa – DV , nó tiến bộ hơn so với trao đổi trực tiếp (H- H). Vì:

+ Nghiệp vụ :   H – T: bán hàng để lấy tiền

                          T – H: lấy tiền để mua hàng

+ Lưu thông h.hóa tách rời hành vi mua và bán cả về không gian lẫn thời gian

Khi thực hiện c/năng này thì tiền có phải có đầy đủ các giá trị sau:

+ Phải dùng tiền mặt vì phải chuyển quyền sở hữu khi mua và bán

+ Lưu thông chỉ chấp nhận một số lượng tiền nhất định. Số lượng nhiều hay ít phụ thuộc vào:

Tổng giá cả h.hóa đưa ra thị trường

Tốc độ lưu thông của tiền tệ

Số lượng tiền cần thiết cho lưu thông chịu tác động của cả hai yếu tố trên. Mối quan hệ hữu cơ giữa hai yếu tố này là nội dung của qui luật số lượng tiền cần thiết cho lưu thông. (Qui luật lưu thông tiền tệ) có công thức như sau:

3.p.tiện dự trữ giá trị

Dự trữ giá trị là tích luỹ một lượng giá trị nào đó bằng những p.tiện chuyển tải giá trị được xã hội thừa nhận với mục đích là chuyển hoá thành h.hóa- DV trong tương lai.

Thực hện c/năng nay, các p.tiện chuyển tải gái trị phải được giá trị xã hội thừa nhận , tức phải đảm bảo các yêu cầu sau:

+ Dự trữ giá trị bằng những p.tiện hiện thực chứ không phải bằng một lượng tiền “ tưởng tượng”

+ Giá trị dự trữ bằng những p.tiện được xã hội thừa nhận

+ Mang tính thời gian (theo yêu cầu của chủ sở hữu, trong tương lai gần có thể là dấu hiệu giá trị, tương lai xa hơn có thể là vàng, ngoại tệ)

4.p.tiện thanh toán

Tiền được sử dụng làm công cụ thanh toán các khoản nợ về h.hóa và DV trong mua bán trước đây

Tiền và hàng vận động độc lập tương đối với nhau về không gian và thời gian

+ Không gian: có thể mua bán ở chỗ này nhưng có thể thanh toán ở chỗ khác hoặc tại chỗ

+ Thời gian: có thể trả nợ trước hoặc sau khi mua (độc lập) hoặc là tiền trao cháo múc (đưa tiền liền – Không độc lập)

c/năng p.tiện thanh toán xuất hiện phát sinh quan hệ tín dụng (bán chịu). Do đó làm cho khối lượng tiền tệ cần thiết cho lưu thông tại một thời điểm nhất định cũng thay đổi:

Trong thanh toán có thể dùng tiền mặt, chuyển khoản, bù trừ

5.c/năng tiền tệ thể giới

Tiền tệ thế giới là p.tiện thanh toán và chi trả chung giữa các quốc gia

Khi thực hiện c/năng tiền tệ thế giới thì chỉ có tiền mặt và tiền có giá trị hoàn toàn nhưng phải đưa về dạng nén, thỏi để thực hiện việc thanh toán cuối cùng.

Còn trong thanh toán quốc tế thì người ta sử dụng ngoại tệ mạnh, ví dụ: USD, EUR, Yên, ..

tien viet nam - ALy

B. 3 c/năng theo theo các nhà kinh tế học

Các nhà kinh tế học cho rằng tiền tệ có 3 c/năng gồm: p.tiện trao đổi, đơn vị tính toán, dự trữ giá trị.

c/năng p.tiện trao đổi

Là một p.tiện trao đổi, tiền tệ được sử dụng như một vật môi giới trung gian trong việc trao đổi các h.hóa, dịch vụ.

Đây là c/năng đầu tiên của tiền tệ, nó phản ánh lý do tại sao tiền tệ lại xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế h.hóa .

Trong nền kinh tế trao đổi trực tiếp, người ta phải tiến hành đồng thời hai dịch vụ bán và mua với một người khác.

Điều đó là đơn giản trong trường hợp chỉ có ít người tham gia trao đổi, nhưng trong điều kiện nền kinh tế phát triển, các chi phí để tìm kiếm như vậy quá cao.

Vì vậy người ta cần sử dụng tiền làm môi giới trong quá trình này, tức là người ta trước hết sẽ đổi h.hóa của mình lấy tiền sau đó dùng tiền mua thứ h.hóa mình cần.

Rõ ràng việc thực hiện lần lượt các giao dịch bán và mua với hai người sẽ dễ dàng hơn nhiều so với việc thưc hiện đồng thời hai giao dịch đối với cùng một người.

Để thực hiện c/năng p.tiện trao đổi tiền phải có những tiêu chuẩn nhất định:

– Được chấp nhận rộng rãi: nó phải được con người chấp nhận rộng rãi trong lưu thông, bởi vì chỉ khi mọi người cùng chấp nhận nó thì người có h.hóa mới đồng ý đổi hàng hóa của mình lấy tiền;

– Dễ nhận biết: con người phải nhận biết nó dễ dàng;

– Có thể chia nhỏ được: để tạo thuận lợi cho việc đổi chác giữa các h.hóa có giá trị khác nhau;

– Dễ vận chuyển: tiền tệ phải đủ gọn nhẹ để dễ dàng trong việc trao đổi h.hóa ở khoảng cách xa;

– Không bị hư hỏng một cách nhanh chóng;

– Được tạo ra hàng loạt một cách dễ dàng: để số lượng của nó đủ dùng trong trao đổi;

– Có tính đồng nhất: các đồng tiền có cùng mệnh giá phải có sức mua ngang nhau.

c/năng đơn vị đánh giá.

c/năng thứ hai của tiền là một đơn vị đánh giá, tức là tiền tệ được sử dụng làm đơn vị để đo giá trị của các h.hóa, dịch vụ trong nền kinh tế.

Qua việc thực hiện c/năng này, giá trị của các h.hóa, dịch vụ được biểu hiện ra bằng tiền, như việc đo khối lượng bằng kg, đo độ dài bằng m…nhờ đó mà việc trao đổi h.hóa được diễn ra thuận lợi hơn.

Nếu giá trị h.hóa không có đơn vị đo chung là tiền, mỗi h.hóa sẽ được định giá bằng tất cả các h.hóa còn lại, và như vậy số lượng giá các mặt hàng trong nền kinh tế ngày nay sẽ nhiều đến mức người ta không còn thời gian cho việc tiêu dùng h.hóa, do phần lớn thời gian đã dàng cho việc đọc giá h.hóa.

Khi giá của các h.hóa, dịch vụ được biểu hiện bằng tiền, không những thuận tiện cho người bán hàng hóa mà việc đọc bảng giá cũng đơn giản hơn rất nhiều với chi phí thời gian ít hơn sử dụng cho các giao dịch.

Là một đơn vị đánh giá, nó tạo cơ sở thuận lợi cho việc sử dụng tiền làm p.tiện trao đổi, nhưng cũng chính trong quá trình trao đổi sử dụng tiền làm trung gian, các tỉ lệ trao đổi được hình thành theo tập quán – tức là ngay từ khi mới ra đời, việc sử dụng tiền làm p.tiện trao đổi đã dẫn tới việc dùng tiền làm đơn vị đánh giá. Đầu tiên những p.tiện được sử dụng làm tiền để biểu hiện giá trị h.hóa cũng có giá trị như các h.hóa khác.

Cơ sở cho việc tiền biểu hiện giá trị các h.hóa khác chính là tiền cũng có giá trị sử dụng như các h.hóa khác (Theo phân tích của Marx về sự phát triển của các hình thái biểu hiện giá trị h.hóa: giá trị h.hóa được biểu hiện ở giá trị sử dụng của h.hóa đóng vai trò vật ngang giá, vật ngang giá chung).

Vì vậy trong thời đại ngày nay, mặc dù các p.tiện được sử dụng là tiền không còn có giá trị như các h.hóa khác nhưng nó được mọi người chấp nhận trong lưu thông (có giá trị sử dụng đặc biệt), do đó vẫn được sử dụng để đánh giá giá trị các h.hóa.

Trong bất kể nền kinh tế tiền tệ nào việc sử dụng tiền làm đơn vị đo lường giá trị đều mang tính chất trừu tượng, vừa có tính pháp lý, vừa có tính quy ước.

c/năng p.tiện dự trữ giá trị

Là một p.tiện dự trữ giá trị, tiền tệ là nơi cất giữ sức mua qua thời gian.

Khi người ta nhận được thu nhập mà chưa muốn tiêu nó hoặc chưa có điều kiện để chi tiêu ngay, tiền là một p.tiện để cho việc cất giữ sức mua trong những trường hợp này hoặc có thể người ta giữ tiền chỉ đơn thuần là việc để lại của cải.

Việc cất giữ như vậy có thể thực hiện bằng nhiều p.tiện ngoài tiền như: Cổ phiếu, trái phiếu, đất đai, nhà cửa…, một số loại tài sản như vậy đem lại một mức lãi cao hơn cho người giữ hoặc có thể chống đỡ lại sự tăng cao về giá so với việc giữ tiền mặt.

Tuy nhiên người ta vẫn giữ tiền với mục đích dự trữ giá trị bởi vì tiền có thể chuyển đổi một cách nhanh chóng ra các tài sản khác, còn các tài sản khác nhiều khi đòi hỏi một chi phí giao dịch cao khi người ta muốn chuyển đổi nó sang tiền.

Những điều đó cho thấy, tiền là một p.tiện dự trữ giá trị bên cạnh các loại tài sản khác.

Việc thực hiện c/năng p.tiện dự trữ giá trị của tiền tốt đến đâu tuỳ thuộc vào sự ổn định của mức giá chung, do giá trị của tiền được xác định theo khối lượng h.hóa mà nó có thể đổi được. Khi mức giá tăng lên, giá trị của tiền sẽ giảm đi và ngược lại.

Sự mất giá nhanh chóng của tiền sẽ làm cho người ta ít muốn giữ nó, điều này thường xảy ra khi lạm phát cao.

Vì vậy để tiền thực hiện tốt c/năng này, đòi hỏi sức mua của tiền phải ổn định.

Sưu tầm & Chia sẻ kiến thức

Mọi người tham khảo và đóng góp ý kiến bổ sung nha!

Trả lời